Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

Keywords

October 2017
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     

Calendar Calendar

Top posting users this month
dinhtoan
 


Phúc Âm BARNABÉ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Phúc Âm BARNABÉ

Bài gửi  dinhtoan on Thu Jul 14, 2011 3:18 pm



Tìm hiểu :

Phúc Âm BARNABÉ

Như chúng ta đã biết, từ khi internet phát triển và phổ cập trong đời sống, thì giới xử dụng gần như có một thư viện thu nhỏ tại gia, vì khả năng của nó có thể giải đáp thắc mắc trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên những tài liệu tìm được khi truy cập thì rất khó đánh giá về tính hư-thật, xuất xứ cũng như giá trị trách nhiệm của chúng.
Nhất là từ khi xuất hiện các blog, thì quyền tự do phát biểu càng được mở rộng, mọi người thoải mái, tự do biểu lộ quan điểm, tư duy của mình, ngoại trừ những điều vi phạm đến an ninh quốc gia nơi họ đang trú ngụ.
Cũng với phương tiện nầy, thật là tuyệt vời khi tôi khám phá quyển Phúc Âm của Thánh Barnabé mà gần như cộng đồng muslim Việt Nam ít người biết đến. Nhưng đây chỉ là những tài liệu truy cập trên mạng, do đó trước khi mang ra phổ biến, chia sẻ niềm vui, kiến thức với các anh chị em muslim, nó cần phải được xác định giá trị, xuất xứ. Sau một thời gian làm việc, tìm kiếm, cuối cùng bài sơ khảo nầy được viết dựa theo quyển  “ Evangile de Barnabé” của hai dịch giả Luigi Cirillo và Michel Frémaux.
Quyển kinh PAB ( xin đọc Phúc Âm Barnabé) được phát hành song ngữ một bên là tiếng Pháp, một bên là bản sao chụp lại bằng phóng ảnh (fac-similé) từ bản chính tiếng Ý, hiện đang lưu trử ở Thư viện quốc gia Áo, sách được ấn bản lần thứ 2 vào năm 2007 của nhà xuất bản Beauchesne, Paris.
Vẫn biết rằng đối với chúng ta, những người muslim, thì Thiên Kinh Qur'an là lời phán dạy của Thượng Đế, nên không có kinh sách nào do bàn tay con người viết nên mà có thể so sánh được với nó. Tuy thế chúng ta vẫn không tránh khỏi sự ngạc nhiên khi đọc những đoạn nói về Thiên Sứ Muhammad được viết lại trong kinh PAB như sau: «...Khi đứng lên, Adam thấy trên trời một hàng chữ viết sáng ngời như ánh sáng mặt trời : “ Chỉ có một Thiên Chúa Duy Nhất và Muhammad  là Sứ Giả của Ngài ”. Khi ấy, Adam mở miệng và nói “ Xin tạ ơn Ngài, Đấng Thiên Chúa của con đã rủ lòng sáng tạo ra con, nhưng xin Ngài hãy nói cho con biết ý nghĩa của câu : “ Muhammad là Sứ Giả của Ngài ?”. Thiên Chúa (Allah) trả lời : “ Mừng ngươi đã đến. Ôi Adam bề tôi của TA. TA nói với ngươi rằng ngươi là con người đầu tiên mà TA đã tạo ra. Kẻ mà ngươi hỏi là con cháu của ngươi, sau nầy sẽ đến với thế gian. Hắn là Sứ Giả của TA. Vì hắn mà TA đã sáng tạo ra tất cả. Khi đến hắn sẽ mang ánh sáng đến với thế gian nầy”. »  trích 39:118
*Chương 44 ghi lại Jésus đã xác định về nhửng giả tạo của các giáo sỉ Do Thái giáo :«  Các môn đồ hỏi : “Thưa Thầy trong sách Lề Luật của Moise đã ghi lời hứa (của Thiên Chúa) dành cho Isaac”. Jésus trả lời :“ Đúng như thế, nhưng đó không phải do Moise ghi lại, cũng chẳng phải Josué ghi lại, mà của các Giáo trưởng (rabbin) họ là, những người không sợ Thiên Chuá nên đã ghi chép lại như thế. Ta nói thật sự với các ngươi, nếu các ngươi cân nhắc kỹ lưởng lới phán của Thiên Thần Gabriel, các người sẽ khám phá những mánh khoé hiểm độc trong các bản viết của các thầy giảng, vì Thiên Thần đã phán : “ Abraham, mọi ngưởi đã biết Thiên Chúa yêu thương ngươi như thế nào ?Nhưng làm thế nào mọi người biết được tình yêu của ngươi đối với Thiên Chúa ? Do đó điều cần thiết là ngươi phải làm một điều gì đó đối với tình yêu của Ngài.”. Abraham trả lời :“ Thưa đây tôi tớ của Ngài, kẻ sẽ sẵn sàng làm tất cả mọi điều mà Ngài muốn”. Thiên Chúa phán :“ Abraham hãy dẫn đứa con đầu lòng của ngươi là Ismael, lên núi hiến sinh (cho TA).”.
Đến đây, Jésus phân giải với các môn đồ : ˝Như vậy làm sao Isaac  là con đầu lòng được, vì khi Isaac sinh ra thì Ismael đã được 7 tuổi ?˝ Tiếp theo câu nói của Jésus các môn đồ đồng thanh lên tiếng :“Rõ ràng các thầy giảng của chúng ta đã nói láo. Xin Thầy hãy nói cho chúng tôi biết sự thật, vì chúng tôi biết Thầy (Jésus) là Sứ Giả của Thiên Chúa”. Jésus trả lời :“Ta nói thật với các ngươi, satan lúc nào cũng tìm cách phá hoại luật lệ của Thiên Chúa. Chính vì thế mà đồng bọn gian xả của chúng, có kẻ nầy thì tạo những lề luật giả , kẻ khác thì có cuộc sống thật là gian manh. Ngày nay bọn chúng gần như lây nhiễm với nhau nên rất khó mà tìm đến sự thật. Thật là khốn nạn cho bọn người gian trá.Vì những lời ca ngợi  ở thế gian nầy  thay đổi chúng thành bất công vàchúng sẽ đau đớn ở địa ngục.
Vì thế Ta bảo với các ngươi rằng Sứ Giả của Thiên Chúa thì rất vinh hiển, Người sẽ mang tin vui, hạnh phúc đến như tất cả những gì mà Thiên Chúa đã sáng tạo, bởi vì Người được trao dồi bằng một tinh thần thông minh và giáo  dục, một tinh thần minh mẫn và quyền lực, một tinh thần ưu ái và tin yêu, một tinh thần khôn ngoan và tiết độ. Người được trao dồi bằng một tinh thần từ thiện và khoan dung, một tinh thần công bằng và thương xót, một tinh thần độ lượng và kiên nhẫn. Thiên Chúa ban cho Người ba lần nhiều hơn tất cả những gì Ngài đã sáng tạo. Ôi ! Thật là hạnh phúc khi Người đến với thế gian. Các ngươi hãy tin Ta, Ta đã trông thấy Người và đã tôn kính Người, cũng như tất cả các Sứ Giả đã trông thấy Người, vì thánh linh của Người đã được Thiên Chúa ban cho lời tiên tri.
Khi Ta trông thấy Người, hồn ta ngập tràn niềm an vui và nói rằng    “Muhammad, Cầu xin Thiên Chúa ở với Người. Thật xứng đáng cho tôi được tháo dây giày của Người, bởi vì khi tôi làm được điều đó, tôi sẽ là một Sứ Giả vĩ đại và trở thành một vị thánh của Đức Chúa Trời”. Sau những lời dạy ấy, Jésus tạ ơn Thiên Chúa.
PAB còn xác định người bị đóng đinh trên thập giá không phải là Jésus qua đoạn kinh dưới đây :
*Chương 215 ghi lại :“Khi những người lính và Judas tiến đến gần nơi Jésus đang ở, Người đã  nghe tiếng chân của họ và sợ hãi trốn vào nhà. Lúc ấy 12 vị tông đồ vẫn ngủ say. Thiên Chúa biết thế nên ra lệnh cho các Thiên Thần Gabriel, Michel, Raphaël và Uriel đến cứu Người. Các Thiên thần đến bắt Người, bay lên qua cửa sổ hướng nam. Các Thiên Thần mang Người đến tầng trời thứ ba và Người ở lại đây cùng các Thiên Thần và mãi mãi được Thiên Chúa ban hồng ân.
*Chương 216 ghi lại:“Judas là người đầu tiên đột nhập vào căn nhà, nơi Jésus đã được các Thiên Thần cứu đi và cũng là nơi 12 vị tông đồ đang ngủ. Thiên Chúa đã làm điều tuyệt vời khiến Judas giống y Jésus  từ giọng nói đến dung mạo đến độ chúng tôi cũng nghĩ rằng đó là Jésus.
Judas, chính hắn, đã đánh thức chúng tôi, lục soát tìm kiếm và hỏi : Thầy (Jésus) ở đâu ? Chúng tôi chỉ vào hắn và trả lời : “ Chính Thầy đây mà ! Chúa ơi ! Thầy đã quên chúng tôi rồi sao ? Nhưng hắn vừa cười vừa nói với chúng tôi : “ Các người có điên không ? Tôi là Judas Escariote đây. ˝
Trong khi hắn đang nói, thì toán lính kéo vào và nắm tay bắt hắn, vì hắn trông rất giống Jésus. Về phần chúng tôi sau khi nghe lời nói của Judas và thấy toán lính cách xa nên chúng tôi trốn thoát. Jean đang đắp chăn ngủ cũng thức dậy và định trốn đi. Một người lính đã nắm chăn kéo hắn lại, nhưng hắn bỏ chăn và đào thoát. Thiên Chúa đã chấp nhận lời van xin của Jésus và đã cứu thoát 12 tông đồ.
*Chương 217 ghi lại :“Bọn lính bắt Judas và trói chắc hắn lại và cũng không quên chế nhạo, vì hắn phủ nhận, hắn không phải là Jésus. Bọn lính trêu hắn : “ Thưa ngài, đừng sợ. Chúng tôi đến đây để tôn vương ngài là vua của Israel. Chúng tôi chỉ trói ngài lại vì ngài từ chối ngai vàng. Judas trả lời :“ Các người có mất trí không ? Các người mang vũ khí, đèn đóm đến để bắt Jésus Nazareth như bắt trộm, rồi các người lại trói tôi để tôn lên làm vua, trong khi tôi đã dẫn các người đến đây ”. Toán lính mất bình tỉnh, nỗi cơn thịnh nộ, đấm, đá và trả lại Judas những đồng tiền của hắn và chúng giải hắn về Jérusalem.
Từ xa Jean và Pierre theo dõi toán lính. Họ xác nhận rằng họ đã nghe, thấy tất cả lời hỏi cung của các Thầy thượng tế và Hội Đồng Cố Vấn Giáo Sĩ Do Thái giáo (Pharisien) để kết án tử hình Judas dưới dạng của Jésus. Làm hắn ta nỗi cơn điên trút hết sự giận dữ khiến mọi người bật cười, vì tất cả đều tin rằng hắn là Jésus thật sự.”
Với nội dung của các đoạn kinh trên trong Phúc Âm của Barnabé, chúng ta mang so sánh với Thiên Kinh Qur'an ở câu 157 và 158 chương 4 thì nó hoàn toàn phù hợp với nhau :
“…và vì những lời mà chúng đã nói : Chúng tôi đã giết Messie tức là Jésus, con trai của Maria và là Sứ Giả của Thiên Chúa (Allah). Thế mà chúng chẳng giết được hắn và cũng chẳng đóng đinh được hắn trên thập giá, vì đó chỉ là một kẻ khác giống (Jésus) mà thôi. Và những người thường bàn tán về việc nầy thì thật sự họ rơi vào sự nghi ngờ. Họ không có một sự hiểu biết rõ ràng, họ chỉ ước đoán mà thôi. Chắc chắn là họ không giết Jésus.”
“Nhưng Allah đã triệu hồi  hắn (Jésus) về bên Ngài ”
Đến đây chúng ta dừng lại để tìm hiểu nguồn gốc của quyển Phúc Âm nầy cũng như tác giả của nó!
A) Barnabé là ai ?
Ông Barnabé là người Do Thái sinh quán ở Chypre, có bản dịch Phúc Âm còn gọi ông là Barnabas có nghĩa là “người con an ủi”. Ông cũng là anh em họ với Tông Đồ Marc. Trong buổi giao thời của Ky Tô giáo, ông đã bán tất cả tài sản của mình để dâng hiến xây dựng hội thánh (xem Tông Đồ Công Vụ 4 :36 - Tân ước ).  
Cũng như Paul (Phao Lồ), ông không có tên trong danh sách 12 Tông Đồ, nhưng ông Barnabé là một người đồng hành với Jésus trong những ngày đầu đi rao giảng và có lần ở tại Antioche (Syrie) Thiên Thần Gabriel đã ban lệnh cho ông trở về Chypre rao giảng lời Thiên Chúa cùng với  Paul  (xem TĐCV 13 :1). Ông cũng là người đã giúp Paul tạo được uy tín với cộng đồng Ky Tô giáo tại Antioche thời bấy giờ, vì trước đây Paul là người chống lại Jésus rất tích cực.
Mặc dù thường phối hợp đi rao giảng lời Chúa, nhưng ông không có cùng quan điểm với Paul trên lĩnh vực thần học cũng như phương cách tổ chức truyền giáo, nên về sau ông rời bỏ Paul và cùng với Marc trở về Chypre sinh sống và từ trần tại nơi đây. (xem TĐCV 15 :36-39).
B) Phúc Âm là gì ?
Phúc Âm là kinh sách của người Ky Tô giáo, mà trong Thiên Kinh Qur'an của chúng ta gọi là Injil. Toàn bộ Phúc Âm gồm có 27 quyển với 27 tác giả khác nhau, có tài liệu cho rằng số lượng của nó nhiều hơn con số 27, có thể lên đến hằng trăm quyển. Tuy nhiên theo Hiến Chế Mặc Khải của Giáo hội Vatican 2 thì người Ky Tô chỉ xử dụng 4 quyển của 4 vị Tông Đồ : Mathieu, Marc, Lucas và Jean, tất cả các quyển nầy đều được viết lại dựa theo trí nhớ của các tác giả.
Số kinh sách còn lại của các vị  khác, tuy không dùng đến nhưng vẫn được lưu giữ. Hiện nay một vài quyển trong số kinh sách ấy đã được chuyển dịch, phổ biến trong quần chúng như Phúc Âm của  Jacques, Philippe, Judas, Thomas, bà Marie Madeleine (Marie de Magdala) và của Barnabé (PAB).
Được biết quyển PAB được xử dụng tại các hội thánh ở Alexandrie đến năm 325, sau đó Conseil de Nicene ra lệnh cho người dân phải giao nộp tất cả các bản viết tay Phúc Âm  bằng chử Do Thái (Hébreux), người nào bất tuân sẽ bị tử hình.
Vào năm 383, Giáo Hoàng Damas I đã mang một bản PAB cất giữ vào thư viện riêng của ông. Đến năm thứ 4 dưới triều đại Hoàng Đế Zeno (478), theo sự hướng dẫn của Tổng giám mục Arthémios ở Chypre, người ta tìm đến ngôi mộ của ông Barnabé và khai quật lên, bên trong, trên ngực ông có một bản Phúc Âm được chính tay ông viết lại. (ACIA Sanctorum Boland Junii Tom II, trang 422 và 450. Anvers 1698).
Kể từ đó PAB như đi vào quên lãng, mãi đến thế kỷ 16 thì nó lại xuất hiện với hai bản, một bằng tiếng Ý và một bằng tiếng Tây Ban Nha. Bản tiếng Ý thì được Giáo Hoàng Sixte Quint (1585-1590) cất giữ trong thư viện riêng. Một hôm có một tu sĩ Ky Tô giáo đến thăm ông đã mượn về đọc, sau đó vị tu sĩ nầy cải giáo sang Islam.
Riêng bản PAB bằng tiếng Tây Ban Nha hiện nay đang được lưu giữ tại Thư viện quốc gia ở Madrid (Espagne). Theo ông Louis Cardaillac, nhà nghiên cứu lịch sử Tây Ban Nha và Chuyên môn về người Maure cho biết, bản viết tay nầy là của người Maure muslim mang đến. Trong thời gian chính quyền Ky Tô nơi đây tiến hành thành lập Tòa Án dị giáo để xét xử, ám hại những người không phải tín đồ Ky Tô, nên họ (người Maure) cất giấu và cải sang Ky Tô giáo nhưng trong lòng họ vẫn giữ đức tin Islam.
Ngoài ra còn một bản viết tay bằng tiếng Tây Ban Nha xuất hiện vào năm 1976 tại một Thư viện ở Sydney-Fisher library (Úc). Đây là một bản sao lại bản của ông George Sale (1697-1736), người Anh, ông rất nổi tiếng với bản dịch Thiên Kinh Qur'an. Nhưng bản ở Úc thì thiếu từ chương 120 đến 200 trong tổng số 222 chương.  
C) Nhận xét :
Kể từ khi PAB tái xuất hiện vào thế kỷ 16 đến ngày hôm nay thì nó được người muslim khắp nơi trên thế giới tiếp đón nồng hậu, nhưng ngược lại người Ky Tô giáo thì không chấp nhận, họ đưa ra những nhận xét PAB không có những điểm tương đồng với 4 quyển Phúc Âm mà họ đang xử dụng.
Trên thực tế thì 4 quyển Phúc Âm của Mathieu, Marc, Lucas, Jean mà họ đang xử dụng cũng đã có nhiều điểm đối nghịch nhau thì làm thế nào đặt ra tiêu chuẩn chính xác tuyệt đối để nhận xét các quyển Phúc Âm khác.
Thí dụ như :
*Theo Phúc Âm Mathieu ghi lại : Jésus sanh vào thời vua Hérode đang trị vì  miền Judé (Mathieu 2:1) nhưng ngược lại ở Phúc Âm Lucas ghi Jésus sanh vào thời kiểm tra dân số của vua Augusto (Lucas 2:1).
*Theo Phúc Âm Mathieu ghi : Sau khi vua Hérode qua đời thì ông Joseph đưa Jésus trở về Israel (Mathieu 2:20), ngược lại ở Phúc Âm Lucas  ghi Jean Baptist làm phép rửa cho Jésus thời vua Hérode. ( Lucas 3:21 )
*Phúc Âm Jean là 1 trong 4 quyển Phúc Âm duy nhất kể lại việc Jésus  rửa chân các tông đồ.
* Theo Phúc Âm Jean : “Không một ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Jean 3:13), ngược lại với sách Vua trong Cựu ước đã ghi : “ Vào thời Đức Chúa Trời đem ông Elia lên trời” ( Vua 2:1.).Như vậy Jésus không phải là người duy nhất lên trời như Jean đã viết.
Nếu so sánh cách dụng chữ ở các bản dịch thì chúng ta sẽ nhận thấy có rất nhiều mâu thuẫn đã xảy ra. Với bản Pháp ngữ của nhà xuất bản Maxi-livres- 2002, khi đọc chúng ta sẽ thấy cụm từ “Fils de l’homme” thì chỉ có chữ Fils dùng để ám chỉ Jésus nên được viết hoa, còn chữ l’homme có nghĩa là con người bình thường nên không viết hoa.
Với lối trình bày in ấn như đã nói ở trên đã mang đến cho người đọc hàm ý Jésus là con trai của một phàm nhân, như Jésus đã xác nhận nhiều lần trong Phúc Âm của Jean.
Nhưng nếu đọc  bản dịch của Tòa Tổng Giám Mục TP/HCM xuất bản năm 1999 thì người đọc sẽ có cảm giác Jésus là con của Thiên Chúa khi cụm từ Fils de l’homme được dịch ra là Con Người và được viết hoa, với ẩn ý muốn nói Con của Người. Từ một danh từ bình thường, chữ Người ở đây được viết hoa để trở thành một đại từ ngôi thứ ba ngầm xác định giá trị của nó dùng thay thế cho từ Thiên Chúa.
Thí dụ như ở bản Pháp ngữ viết : “…si vous ne mangez la chair du Fils de l’homme…” thì ở bản việt ngữ dịch và viết lại như sau :  “…nếu các ông không ăn thịt Con Người …” (Jean 6 :53 ).Với cách trình bày nầy, người đọc rất dễ dàng ngộ nhận Jésus là con của Người (Thiên Chúa).
*Cũng theo sách Tông Đồ công vụ của Tòa Tổng Giám Mục TP/HCM xuất bản năm 1999 ghi : “Có một người là Kha-na-nia, vợ là  Xa-phi-ra  bán một thửa đất”(xem TĐCV 5:1) thì ở quyển Tân ước của Linh Mục G.Trần văn Hiến Minh, in tại Pháp năm 1978 ghi : “ Bấy giờ có người kia tên là A Nan cùng với vợ là Sa phi bán ruộng của mình” (xem TĐCV 5:1) .
*Đặc biệc nhất là sự đối nghịch nhau giữa người Ky Tô giáo và Tin Lành trên phương cách xử dụng bộ Thánh Kinh của họ. Hội Thánh Tin Lành đã cắt bỏ 7 quyển trong Cựu ước như sau: Tobie, Judith, Maccabées1, Maccabée2, Sagesse, Ecclésiatique, Baruch mà Giáo hội Vatican hiện đang xử dụng.
Riêng Tin Lành thuộc phái Lutherien thì “Những lá thư của Jacques” (anh của Jésus) còn được xem là Phúc Âm của họ, trong khi Vatican không dùng đến.
Nếu phải liệt kê những chi tiết đối nghịch nhau giửa 4 quyển Phúc Âm được xem là chuẩn mực nhất của người Ky Tô, hoặc giữa Cựu ước và Tân Ước, chắc chắn chúng ta cần phải có một thời gian dài và nhiều giấy mực mới có hy vọng hoàn tất được.
Với những điểm khác biệt nêu trên đã cho chúng ta hiểu rằng, mặc dù người Ky Tô giáo cùng đọc chung một bộ kinh thánh, nhưng mọi người có quyền tự do lựa chọn những kinh sách hay dòng tu thích hợp đối với cái nhìn của họ để ứng dụng vào sinh hoạt đời sống, tâm linh; chứ không dựa vào một tiêu chuẩn nhất định nào cả, vấn đề nầy cũng được nhà văn Nguyển Ngọc Ngạn nói đến ở trang số 7 trong tác phẩm “Xóm đạo” của ông !.
Gần đây một vấn đề đã từng gây chấn động trong quần chúng mà chắc chắn mọi người vẫn chưa quên. Đó là quyển tiểu thuyết “Da Vinci code” của Dan Brown, mà trong đó tác giả đã miêu tả lại mối tình của Jésus và bà Maria de Magdala (Madeleine).
Đứng trước sự kiện nầy một làn sóng chống đối Dan Brown nổi lên cho rằng ông đã dựng lên vấn đề bằng những hư cấu do chính ông ta tạo ra để bôi nhọ Ky Tô giáo, nhưng ngược lại vào ngày 18/1/2009 trong buổi phát hình chương trình Tin Lành của đài VTTH France 2 với chủ đề “Cachés sous le sable”, Người hướng dẫn chương trình đã trưng bày quyển Phúc Âm của Philippe với câu kinh được ghi rõ như sau : “Et la compagnon du fils est Marie Madeleine. Le Seigneur l’aimait plus que tous les disciples et il l’embrassait souvent sur la bouche. Les disciples le voyaient et ils lui disent : Pourquoi l’aimes- tu plus que nous tous? Le Sauveur répondit et leur dit : Comment se fait-il que je ne vous aime pas autant qu’elle ? Un aveugle et quelqu’un qui voit, quand ils sont tous les deux dans l’obscurité ne se distinguent pas l’un de l’autre. Si la lumière vient, alors ce lui qui voit verra la lumière, alors que ce lui qui est aveugle demeurera dans l’obscurité  ”(44b-45).
Tạm dịch: “ Và người bạn đường của người con ( Jésus ) là bà Marie Madeleine. Người yêu thương bà ấy nhiều hơn tất cả môn đồ và Người  thường hôn lên môi bà ấy. Các tông đồ nhìn thấy và hỏi Người : Tại sao Thầy yêu cô ấy hơn chúng tôi ? Đấng Cứu Thế trả lời với họ : “ Làm thế nào mà Ta không yêu các ngươi bằng cô ấy? Một người mù và một người sáng mắt, khi cả hai rơi vào bóng tối thì họ không nhận ra nhau, nhưng khi có ánh sáng, người sáng mắt sẽ nhìn thấy ánh sáng và người đui mù vẫn ở trong tăm tối.”
Qua đoạn kinh trên cho phép chúng ta kết luận Dan Brown không tự đặt ra những điều hư ảo để tạo xì-căn-đăn thu hút đọc giả, ngược lại ông đã dựa vào các tài liệu có thật để hoàn thành tác phẩm của ông.
Tóm lại không một ai có thẩm quyền để khẳng định quyển kinh nầy đúng quyển kia sai. Cái đúng hay sai của nó hoàn toàn tùy thuộc vào cái nhìn của đối tượng của nó, như vậy đối với tôi thì quyển PAB hoàn toàn đúng và đáng được người muslim chấp nhận, tin tưởng vì những gì ghi chép lại ở trong nó hoàn toàn phù hợp với những điều đả phán trong Thiên Kinh Qur'an. Và có thể đây chính là động cơ thúc đẩy ĐGH Jean Paul 2 đã trân trọng ôm hôn lên Thiên Kinh Qur'an trước mặt quần chúng trong chuyến viếng thăm của ông tại Trung Đông vào tháng 4/1999.
Được biết thêm, quyển PAB đã chuyển dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng Anh, Pháp, Á rập, Ấn độ và Mã lai, đây là một điều kiện thuận lợi cho các anh chị em muslim Việt Nam hiện đang du học hoặc làm việc tại các quốc gia nầy dễ dàng nghiên cứu, học hỏi để làm tăng thêm kiến thức hầu phổ biến, phục vụ lợi ích cho cộng đồng.
Erangy,12/02/2009.
Đình Toàn.
study  study  study


Được sửa bởi dinhtoan ngày Tue May 09, 2017 11:43 am; sửa lần 1.

dinhtoan
Admin

Tổng số bài gửi : 236
Join date : 19/11/2009
Age : 69

Xem lý lịch thành viên http://islamvachungta.religionboard.net

Về Đầu Trang Go down

Khám phá quyển kinh nói Jésus không hề bị đóng đinh

Bài gửi  dinhtoan on Sun Mar 06, 2016 7:42 pm

http://www.knowledgeoftoday.org/2014/05/1500-year-old-bible-claims-jesus-christ-was-not-crucified-vatican-in-awe.html

Một sự thất vọng to lớn  của Vatican, khi người ta đã tìm được ở Thổ Nhĩ Kỳ một quyển thánh kinh có độ tuổi khoảng 1500- 2000 năm, tại Bảo tàng Dân tộc học ở Ankara (Thổ Nhỉ Kỳ )
Sự khám phá nầy được giử bí mật, sau khi người ta đả phát hiện vào năm 2000, một cuốn Phúc Âm của Barnabas (còn gọi là Barnabé), một trong nhửng môn đệ của Jésus Christ. Trong quyển kinh đó ông nói rằng Jésus Christ không bị đóng đinh và  cũng không phải là con trai của Thiên Chúa, mà chỉ là một nhà tiên tri.
Cuốn kinh nầy đả gọi Thánh Paul là "Kẻ mạo danh". Cuốn kinh cũng nói rằng Jésus Christ còn sống và đả lên trời  chứ không bị đóng đinh như mọi nggười đả nghỉ, mà chính Judas Iscariot mới là người bị đóng đinh vì đã thế vào vị trí của Jésus Christ.




Trong một bản báo cáo của TheTurk national nói rằng quyển Kinh Thánh nầy đã được tịch thu từ một băng đảng buôn lậu đồ cổ, khai quật bất hợp pháp và chất nổ trong vùng Địa Trung Hải. Cuốn kinh sách có giá trị  được ước tính khoảng 40 triệu lira Thổ Nhĩ Kỳ (28 triệu dollars).
XÁC THỰC NGUYÊN BẢN
Theo báo cáo của các chuyên gia và các cơ quan tôn giáo ở Tehram đả nhấn mạnh rằng cuốn sách là bản gốc. Nó được viết bằng mẩu tự Aramen mạ vàng là ngôn ngữ của Jésus Christ trên bìa bằng . Nó  có dáng dấp tương tự như một văn bản của Hồi giáo, trong đó nói lên nhửng điều mâu thuẫn với giáo lý trong Tân Ước, như Jésus đả tiên tri 700 năm sau  có sự xuất hiện của Đấng tiên tri Muhammad và là người sẻ mang Islam  đến với loài người.
Như chúng ta đả biết ngày nay Hội đồng Nicée của Giáo Hội Công Giáo Phúc Âm chỉ đón nhận nhửng quyển  Kinh Thánh của Matthew, Mark, Luke và John  và loại bỏ Kinh thánh của Barnabas, củng như của nhiều tác giả khác  Mặc dù ngày nay theo dòng thời gian đả có nhiều bản kinh thánh được phát hiện ở Biển Chết hay của Gnostic Gospels; nhưng đặc biệt cuốn của Barnaba là cuốn sách làm cho Vatican  có vẻ lo lắng .
Sự khám phá nầy có nói lên Giáo hội Công giáo và  tín đồ KTG đang lạc lối hay không ?  Quả thật đây là một vấn đề khó khăn phải giải quyết kín đáo. Về phiá Vatican thì họ đã yêu cầu nhà chức trách Thổ Nhĩ Kỳ hảy để họ  kiểm tra nội dung của cuốn sách. Nhưng liệu  họ có  chấp nhận và nhửng bằng chứng đó hay không, hay là họ sẽ từ chối nó hoàn toàn . Và sẻ bảo rằng đó là một "sản phẩm giả tạo của người Hồi giáo" ? Như tạp chí "La Vérité" đả nói đến trong năm 2000.
Đối với nhiều người khác thì cuốn sách này là một tia hy vọng cho các tín hữu KTG sớm nhận ra  đối tượng thờ phượng của họ mà tất cả các văn bản, đặt biệt nhất trong văn bản tôn giáo, đả giải thích.  Điều này đối với những người vô thần, tư tưởng thế tục sẻ như thế nào, nếu các văn bản nầy là đúng hoặc sai hay chẳng là gì hết ?
Chúng ta  hy vọng nhửng tin tức nầy sẻ đặt thành vấn đề để xem xét lại, thay vì phản đối mảnh liệt hay làm bất cứ điều gì một cách mù quáng. Và đây củng không phải là lúc để nhửng không phải là tín đồ KTG  trêu trọc hay phán ra nhửng câu nói bừa bải va chạm vào đức tin của tín đồ KTG.
Chúng ta đừng quên rằng, sự nguy hiểm lớn nhất  là khi người ta đả tin nhửng điều họ muốn tin, thì họ sẻ bảo vệ chống lại tất cả các bằng chứng; đặc biệt là nhửng bằng chứng ngày càng rời xa nền tảng của họ . Và thủ phạm lớn nhất của nguy cơ này là cái bẫy của nhửng kẻ tự ngã, thích chỉ trích người khác .
Trong nhiều thế kỷ qua, vấn đề bảo vệ đức tin một cách mù quáng đả dẫn đến chiến tranh, bạo lực, phân biệt đối xử, nô lệ một giửa các quốc gia, dân tộc  mà vết tích của nó vẩn còn đậm nét trong lịch sử loài người và nay đả trở thành nhửng hành động máy móc trong xả hội chúng ta . Nếu các bạn sáng suốt nhận định và hiểu rỏ vấn đề thì nên hành động như theo nhửng điều mà các bạn đả biết.

GOOGLE lược dịch
06/06/2016

dinhtoan
Admin

Tổng số bài gửi : 236
Join date : 19/11/2009
Age : 69

Xem lý lịch thành viên http://islamvachungta.religionboard.net

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết